New Page 1
RẮN HỔ TRâU
Ptyas mucosus
Linnaeus, 1758
Coluber
mucosus
Linnaeus, 1758
Zamenis
mucosus
Boulenger, 1890
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Mô tả:
Rắn cỡ lớn, có 2 + 2 vảy thái dương, 17 hàng vảy thân. Khi tức giận rắn cũng
phình cổ song theo chiều trước ra sau chứ không bạnh theo chiều ngang như rắn hổ
mang. Đầu xám nâu. Những tấm vảy mép trên và mép dưới viền đen. Lưng xám nâu, từ
nửa thân phía sau đến mút đuôi có những đường to gấp khúc chạy ngang thân. Bụng
có màu vàng hoặc trắng đục, ở bờ sau của mỗi vảy bụng có viền đen. Chiều dài cơ
thể tới 2m.
Sinh học:
Thức ăn chủ yếu của rắn là chuột, ngoài ra chúng còn ăn, ếch, cóc, nhái và chim.
Rắn đẻ trứng vào tháng 5 - 7, đẻ 9 - 14 trứng.
Nơi sống và sinh thái:
Thường sống trong các bụi cây, hang của chúng là những hang chuột bỏ không trong
các gò đống hoặc dưới các bụi tre. Rắn đi bắt mồi cả ngày lẫn đêm. Chúng leo
trèo và bơi giỏi.
Phân bố:
Việt Nam: Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái, Bắc Thái, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Hà Tây, Hòa
Bình, Hà Nội, Quảng Ninh, Nam Hà, Ninh Bình, Nghệ An (Vinh, Hưng Nguyên, Qùy
Châu, Tân Kì), Đắc Lắc, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh, Kiên Giang (Hà Tiên), Minh
Hải.
Thế giới: Nam Liên Xô (cũ), Nêpan, Ấn Độ, Xrilanca, Mianma, Trung Quốc, Thái
Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, đảo Giava, Apganistan.
Giá trị:
Rắn hổ trâu ăn chủ yếu chuột nên có ích cho nông nghiệp. Thịt được coi là ngon
nhất trong loài rắn. Rắn là một trong nhũng loài rắn có kích thước lớn nhất, khi
bị trêu ghẹo thì dựng phần đầu cơ thể và phình cổ nên được trưng bày trong các
vườn động vật.
Tình trạng:
Số lượng còn rất ít do bị
săn bắt triệt để. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, cần tổ chức
nuôi.
Tài liệu dẫn:
Sách đỏ Việt
Nam
trang 208.