|
MAIN FEATURES OF MAMMALS FAMILY

|
Hisricidae |
|
|
| |
Gồm những loài gặm nhấm sống trên mặt đất, hoạt động, kiếm ăn đêm. Đặc điểm đặc trưng của họ này là thân phủ gai trâm cứng, ở hang. Răng cửa không có chân răng, phát triển liên tục. Không có răng nanh. Bộ răng 1.0.1.3/1.0.1.3 = 20 chiếc. Nơi sống là các khu rừng thường xanh. Thức ăn chủ yếu là củ, quả, hạt các loài thực vật trong vùng phân bố. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa đẻ 1 - 2 con. Có 2 loài phân bố ở nước ta là Atherurus macrourus và Hystrix brachyura .
|
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Petauristidae |
|
|
| |
Gồm những loài gặm nhấm sống trên cây, hoạt động, kiếm ăn đêm. Đặc điểm đặc trưng của họ này là có màng cánh da, có khả năng bay lượn. Đuôi dài, bông. Răng cửa không có chân răng, phát triển liên tục. Không có răng nanh. Nơi sống là các khu rừng thường xanh. Thức ăn chủ yếu là quả hạt các loài thực vật trong vùng phân bố. Mỗi năm đẻ 2 lứa mỗi lứa đẻ 3 con. Ở Việt Nam có 7 loài thuộc 3 giống Belomys, Hylopetes, Petaurista.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Sciuridae
|
|
|
| |
Gồm những loài gặm nhấm sống trên cây, hoạt động, kiếm ăn đêm. Đặc điểm đặc trưng của họ này là chân trước có 4 ngón. Đuôi dài, bông. Bộ răng 1.0.2.3/1.0.2.3 = 24 chiếc. Răng cửa không có chân răng, phát triển liên tục. Không có răng nanh. Nơi sống là các khu rừng thường xanh. Thức ăn chủ yếu là quả hạt các loài thực vật trong vùng phân bố. Mỗi năm đẻ 2 lứa mỗi lứa đẻ 2-3 con. Ở Việt Nam có 10 loài. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Rhinocerotidae
|
|
|
| |
Thú móng guốc lẻ có kích thước rất lớn, đi bằng ngón, chân ngắn, có 3 ngón. Thiếu răng nanh, bộ răng thiếu (2.0).0.4.3/2.0).0.4.3 = 36(28) chiếc. Thức ăn chính là các loài thực vật, ngón chân thứ III phát triển, các ngón khác bé. Đầu ngón có guốc. Sống trong các khu rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con. Ở Việt Nam có 2 loài nhưng 1 loài tê giác 2 sừng Rhinoceros sumatrensis đã bị tuyệt chủng.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Tê tê
Manidae
|
|
|
| |
Gồm những loài thú trên mặt đất hoặc trên cây. Thân hình giống bò sát, da phủ vảy sừng. Miệng không có răng, lưỡi có tuyến tiết chất dính để bắt mồi. Sống trong hang ở các khu rừng giàu thảm thực mục, thú ăn đêm. Thức ăn chính là các loài côn trùng đất. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1-2 con. Ở Việt nam có 2 loài là Manis javanica và Manis pentadactyla thuộc 1 giống Manis.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Elephantidae
|
|
|
| |
Gồm các loài thú lớn nhất sống trên cạn, thức ăn là các loài thực vật. Chân gồm 5 ngón ngắn, đầu ngón phủ guốc nhỏ. Lỗ mũi và môi trên kéo dài thành vòi, răng mọng thành khối, hai răng trước phát triển thành ngà. Bộ răng 1.0.3.3/0.0.3.3 = 26 chiếc. Nơi sống là các khu rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh. Hai năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con. Ở Việt Nam có 1 loài
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Hylobatidae |
|
|
| |
Gồm các Loài linh trưởng thích nghi đặc biệt với đời sống trên cây. Hoạt động ban ngày, Tay dài hơn chân, không có đuôi, không có túi, chai mông nhỏ. Vận động, đi lại chủ yếu bằng tay. Đi lại trên mặt đất bằng hai chân, hai tay giữ thăng bằng. Bộ răng 2.1.2.3/2.1.2.3 = 32 chiếc thích nghi với chế độ ăn tạp. Mỗi năm đẻ một lứa mỗi lứa đẻ 1 con hiếm khi 2. Phân bố chủ yếu ở rừng nguyên sinh. Có 11 loài và chỉ phân bố ở vùng Đông nam Á. Ở Việt Nam có 3 loài (5 phân loài).
|
|