|
TRA CỨU VÀ NHẬN BIẾT HỌ ĐỘNG VẬT (CHIM)
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Trèo cây Sittidae |
|
 |
| |
Họ này gồm các loài chim có cỡ nhỏ, nặng 20-40g. Mỏ của chúng dài vừa phải, thẳng và nhọn. Cánh ngắn, tròn, có 10 lông cánh sơ cấp. Các lông cánh sơ cấp thứ 2, 3 và thứ 5 là những lông dài nhất, lông thứ 6 bằng lông thứ 2. Đuôi ngắn, gốm 12 lông. Chân ngắn, khoẻ với ngón chân dài và móng nhọn thích hợp với việc leo trèo dọc thân cây, vách đá. Bộ lông mềm và dày. Chim đực và cái có bộ lông giống nhau. Đây là những loài chim sống ở rừng hoặc núi đá.
|
Chúng làm tổ trong các hốc cây hay kẽ đá và cửa tổ lúc nào cũng chét thêm bùn cho hẹp lại đủ để cho chim ra vào. Mỗi lứa đẻ 4-6 trứng. Thức ăn chính của họ này là dộng vật không xương sống nhỏ mà chủ yếu là côn trùng, nhện. Đôi khi ăn hạt thực vật. Họ trèo cây gồm 31 loài thuộc 6 giống chủ yếu phân bố ở châu Âu, Á, bắc Mỹ và bắc Phi. Ở Việt Nam có 4 loài thuộc 1 giống Sitta
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Trĩ Phasianidae |
|
 |
| |
Gồm các loài chim phân bố rộng trên thế giới, kích thước cỡ trung bình, số loài có cỡ lớn, bé rất ít. Đặc điểm bên ngoài của họ Trĩ có liên trên mặt đất. Chân chắc, đầu không lớn, mỏ ngắn, khoẻ và hơi cong. Cổ ngắn nhắm thích nghi với điểu kiện kiếm ăn trên mặt đất và các bụi thấp. Cánh ngắn và rộng giúp cho chúng bốc nhanh lên khỏi mặt đất để tránh khỏi sự săn đuổi của kẻ thù tự nhiên. Sống ở nhiều các sinh cảnh khác nhau như: rừng rậm, savan, thung lũng |
Chim đực không những lớn hơn chim cái mà còn có bộ lông hết sức sặc sỡ nhằm thu hút bạn tình. Bộ lông của họ Trĩ dày, cứng, thân lông phụ thường khá phát triển. Hầu hết các loài thuộc họ này làm tổ trên mặt đất. Tổ rất đơn giản thường là một đám lá khô hay hõm đất nông. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa đẻ từ 5 đến 15 trứng. Thức ăn chính của chúng là các loài hạt, quả, củ và côn trùng trên mặt đất. Chim non mới nở thường ăn động vật khi lớn thay thế bằng thức vật. Ở Việt Nam có 22 loài.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Vành khuyên Zosteropidae |
|
 |
| |
Là những loài chim cỡ bé, chiều dài cơ thể chỉ khoàng 10-13cm. Đặc điểm chính là mỏ tương đối dài, mảnh, hơi cong xuống, mép mỏ trơn, lỗ mũi có màng da rộng che phủ. Lưỡi có thể thò ra ngoài khá xa, mút lưỡi tách ra làm nhiều sợi sừng nhỏ như bút lông. Chân dài, khoẻ nhưng không thích hợp với sự di chuyển trên mặt đất. Cánh khá dài, có 10 lông cánh sơ cấp, lông cánh sơ cấp thứ nhất bé. Đuôi dài và có hình vuông. Bộ lông của các loài gần giống nhau.
|
Mặt lưng vàng lục mặt bụng vàng nhạt hay xám nhạt và có vòng long trắng ở mắt. Bộ lông chim đực và cái giống nhau. Họ này sống ở rừng cây và cây bụi có thể gặp bất cứ chỗ nào có cây. Là những loài hoạt động. Thức ăn chính là côn trùng, mật hoa, quả mềm. Tổ hình chén trên cành cây nhỏ có lá che kín, tổ làm bằng bông cỏ, rễ cây mịn, tơ nhện. Có khoảng 82 loài thuộc 15 giống phân bố rộng rãi ở châu Phi, châu Á, châu Úc và các đảo rất xa lục địa. Ở Việt Nam có 3 loài thuộc giống Zosterops. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Vàng anh Oriolidae
|
|
 |
| |
Gồm các loài chim cỡ trung bình với cơ thể chắc. Mỏ khá dài và hơi cong, mép mỏ cong và chỉ mút mỏ trên có khía rất bé. Cánh dài và nhọn, số lông cánh sơ cấp 10, lông cánh sơ cấp thứ nhất khá lớn và dài hơn nửa lông thứ hai. Lỗ mũi trần và nằm hơi lệch về phía dưới, mép dưới của lỗ mũi gần với mép mỏ hơn là lá mép trên với sống mỏ. Đuôi hơi ngắn, có 12 lông. Chân ngắn và hơi yếu, mặt trước giò có 3 hàng vảy, mặt sau trơn. Bộ lông thường có màu sắc sặc sỡ mà chủ yếu là vàng và
|
đen hay đỏ đen. Chim đực có màu sáng, chim cái có màu xỉn, chim non có vạch nhỏ toàn thân.Đây là họ chim sống trên cây thực thụ. Thức ăn chính là côn trùng và quả mềm. Tổ vàng anh hình chén làm treo giữa chạc cây, nằm khá cao cách mặt đất hay ngả trên mặt nước. Trứng có đốm và vạch nâu hay đỏ tím. Có 32 loài thuộc 2 giống, phân bố ở các vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới của đông bán cầu. Ở Việt Nam có 4 loài thuộc 1 giống Oriolus.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Vẹt Psittacidae |
|
 |
| |
Gồm những loài có kích thước trung bình và bé. Đặc điểm bên ngoài của họ này khác đặc trưng và dễ phân biệt với những họ khác. Thân chắc, cổ ngắn, đầu lớn, mỏ ngắn và rất khoẻ. Mỏ trên có chóp mỏ cong. khoằm xuống chùm lên mỏ dưới. Mép mỏ dưới thường lượn sóng, đôi khi ở mép mỏ trên c1o răng nhỏ. Cánh của họ này khoẻ, ngắn, hơi tròn. Số lông cánh sơ cấp là 10. Đuôi có nhiều hình dạng khác nhau, tùy loài, gồm 12 lông đuôi. Bộ lông chắc nhưng không dày.
|
Chim đực và chim cái giống nhau. Nơi sống của họ này là các đồng cỏ rộng, chỗ gần nước hoặc các vùng đầm lầy ở phương Bắc. Thức ăn chính là các loại củ, hạt, mầm đôi khi chúng ăn cả động vật. Là những loài đơn thê, có đôi sống với nhau cả đời. Tổ làm trên mặt đất. Mỗi lứa đẻ từ 1-2 trứng. Chim non mới nở khoẻ. Có 4 giống và 11 loài phân bố trên thế giới trừ Nam Mỹ, Madagasca… Ở Việt Nam có 3 loài thuộc giống Grus. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Vịt Anatidae |
|
 |
| |
Các loài thuộc họ Vịt có kích thước khá lớn hoặc trung bình, phần lớn có cổ ngắn, trừ Ngỗng. Giò phủ vảy hình lưới (Ngỗng), và vảy ngang (Vịt) có nhiều cạnh, ở mặt trước giò, phần nhiều các vảy phân biệt được rõ ràng so với phần bên và sau. Bộ lông có màu sắc khác nhau, thường ở cánh có vệt ngang gọi là gương nhưng ở loài Ngỗng cánh không có gương. Con đực và con cái thường có bộ lông khác nhau. Họ này thường làm tổ trên các đám cỏ hay trong bụi lau sậy gần bờ nước. |
Tổ đơn giàn nhưng lớp trong của tổ có nhiều lông bông ấm do con cái tự vặt ở thân mình. Mỗi lứa đẻ 2-5 trứng. Trứng lớn màu trắng. Thời gian ấp khoảng 25 ngày. Con non mới nở khoẻ mạnh. Thức ăn chính của chúng khá phức tạp gồm Cá, Tôm Cua. . . và một số loài hạt thực vật.Ở Việt Nam có 20 loài thuộc họ này trong đó 16 loài trú đông. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Ưng Accipitridae |
|
 |
| |
Là họ lớn nhất trong bộâ Cắt Falconiformes, có đến 205 loài phân bố trên khắp thế giới trừ lục địa Nam cực và một số đảo vắng ở Đại dương. Đặc điểm của họ Ưng là cánh rộng và thường tròn, chân khoẻ, mỏ khoẻ và quặp. Phần lớn các loài chim đực và chim cái có bộ lông giống nhau. Thức ăn của họ này rất khác nhau phần lớn là ăn thú nhỏ, nhất là chuột, chim, bò sát, ếch nhái, cá, ốc và côn trùng Một số loài ăn xác chết. Ở Việt Nam có 37 loài thuộc 20 giống |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Yến Apodidae |
|
|
| |
Là những loài chim có kích thước nhỏ, thân chắc đầu khá lớn, hẹp. Mỏ ngắn, rộng, hơi dẹp theo chiều trên dưới và há được rộng. Cánh rất dài và hẹp lúc bay dang ra có hình cánh cung. Đuôi ngắn, chẻ đôi. Số lông cánh sơ cấp là 10, số lông cánh thứ cấp là 7-11. Chân của yến rất ngắn, có 4 ngón. Lưỡi hình tam giác, trong miệng có nhiều tuyến nước bọt và vào mùa làm tổ các tuyến này tiết ra một số lượng lớn nước bọt dẻo và dính dùng làm tổ.
|
Là những loài bay rất giỏi, chúng bắt mồi trong khi bay, ghép đôi, kiếm vật liệu làm tổ, ngủ và rỉa lông cũng trong lúc bay. Tốc độ bay đạt kỷ lục của loài yến đuôi cứng là 140-160km/giờ. Thức ăn chủ yếu là các loài côn trùng nhỏ. Nơi sống gồm nhiều cảnh quan khác nhau núi, rừng, đồng bằng, hài đảo, bờ biển. Làm tổ trong những hốc cây vách đá dựng đứng hay ở những phiến là cọ, cau. Ở Việt nam có 11 loài thuộc 3 giống. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Yến mào Hemiprocnidae |
|
|
| |
Là loài chim có kích thước nhỏ, thân chắc đầu khá lớn, hẹp, có một túm lông trên đỉnh giống mào. Mỏ ngắn, rộng, hơi dẹp theo chiều trên dưới và há được rộng. Cánh rất dài và hẹp lúc bay dang ra có hình cánh cung. Đuôi ngắn, chẻ đôi. Số lông cánh sơ cấp là 10, số lông cánh thứ cấp là 7-11. Chân của yến rất ngắn, có 4 ngón. Lưỡi hình tam giác, trong miệng có nhiều tuyến nước bọt và vào mùa làm tổ các tuyến này tiết ra một số lượng lớn nước bọt dẻo và dính dùng làm tổ.
|
Là những loài bay rất giỏi, chúng bắt mồi trong khi bay, ghép đôi, kiếm vật liệu làm tổ, ngủ và rỉa lông cũng trong lúc bay. Thức ăn chủ yếu là các loài côn trùng nhỏ. Nơi sống gồm nhiều cảnh quan khác nhau núi, rừng, đồng bằng, hài đảo, bờ biển. Làm tổ trong những hốc cây vách đá dựng đứng. Việt nam có 1 loài thuộc 1 giống. |
|