Trang chủ | Tổng quan | Mẫu gỗ | Vườn quốc gia | English | Japanese
 

Từ điển Latin - Việt

:: Thông tin mới ::

Xem thêm ...

 

Lượt người truy cập
6915781

TRA CỨU VÀ NHẬN BIẾT HỌ ĐỘNG VẬT (CHIM)

 
Tra cứu họ động vật:
A B C C1 C2 D Đ E G
 

Cu cu Cuculidae

 

Gồm các loài chim có cỡ trung bình một số ít loài cỡ bé. Cánh và đuôi dài. Chân ngắn, mặt ngoài của nửa trên giò thường có lông phủ. Chân thuộc kiểu chân chèo, hai ngón hướng về phía trước và hai ngón hướng về phía sau. Mỏ có kích thước trung bình, chóp mỏ trên hơi cong xuống, miệng rộng vì thường nuốt mồi lớn. Số lông cánh sơ cấp là 10, lông thứ 3 dài nhất. Số lông đuôi thường là 10, một số loài ở vùng nhiệt đới lông đuôi chỉ là 8.

Bộ lông của họ này khá dày các lông cắm chắc vào da. Phần lớn các loài có màu xỉn, xám, hung đen, có điểm vằn trắng ở mặt bụng. Một số loài có màu đỏ và ánh thép. Hầu hết là những loài hoạt động ban ngày, định cư, Thức ăn chủ yếu của chúng là động vật nhỏ, nhất là côn trùng, một số loài khác ăn quả mềm. Rất nhiều loài thuộc họ này là những loài ăn trứng của các loài chim khác sau đó đẻ trứng của mình vào tổ đó. Ký sinh tổ là đặc tình cơ bản của họ này do vậy thời kỳ phôi thai trứng của chúng khá nhanh 11-15 ngày đã nở và thường ngắn hơn các loài bị ký sinh. Ở Việt Nam có 17 loài.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cu cu rốc Capitonidae

 

Gồm các loài chim cỡ trung bình. Bộ lông có màu sáng, phần chính là màu lục có lẫn một ít màu đỏ, vàng hoặc nâu. Thân chắc, cổ ngắn, đầu to, mỏ to và khoe, chóp mỏ nhọn, mỏ trên hơi chùm lên mỏ dưới. Lỗ mũi mở ra ở gốc mỏ và luôn luôn có long che kín. Hai bên mép mỏ có nhiều lông tơ cứng và dài. Cánh tròn, có 10 lông cánh sơ cấp, lông cánh sơ cấp thứ nhất ngắn. Là những loài chim sống trên cây mà phần lớn là ở rừng. Chúng làm tổ trong hốc cây.

Mỗi lứa chim đẻ 2-5 trứng, vỏ màu trắng. Thức ăn chính là quả mềm, một số ít ăn hạt và một vài loài ăn côn trùng. Thỉnh thoảng cũng gặp những cá thể ăn cả chim non, trứng chim hoặc thằn lằn. Họ cu rốc gốm 72 loài thuộc 13 giống phân bố ở các khu rừng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi, châu Á. Ở Việt Nam gặp 10 loài thuộc giống Megalaima

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cú lợn Tytonidae

 

Gồm các loài chim có kích cỡ trung bình hay nhỏ. Một số loài có kích thước lớn. Đặc trưng của họ này là mỏ ngắn, mỏ trên rất cong. Gốc mỏ trên phủ da mềm. Thường ở da gốc mỏ có lông tơ nhỏ mọc hướng về phía trước. Lỗ tai rất rộng và thường có viền mép da. Lông ở mặt nhỏ, xếp toả xung quanh thành 1 vòng gọi là đĩa mặt hình tim rất rõ. Một số loài còn có chúm lông dài, dựng lên như hai tai thú là lông mào tai. Chân ngắn, ngón chân có thể gập về phía trước và phía sau.

Giò và chân thường phủ lông. Cánh dài, tròn, lông cánh sơ cấp là 10-11. Đuôi tương đối ngắn, gốm 12 lông. Bộ lông của họ này khá dày, mềm. Màu lông thường xỉn, lẫn lộn giữa các màu xám, nâu, hung và thường có nhiểu vệt và chấm màu thẫm hơn hay trắng. Chim cái nhỏ hơn và có bộ lông giống chim đực. Là những loài ăn đêm và lúc hoàng hôn. Sống định cư, ở nhiều sinh cảnh khác nhau. Thức ăn là những loài động vật nhỏ như chuột, rắn, thằn lằn. . . Chúng làm tổ ở các hốc cây, kẽ đá, những tổ cũ của nhiều loài chim khác. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa 3-5 trứng. Ở Việt Nam có 16 loài.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cú mèo Strigidae

 

Gồm các loài chim có kích cỡ trung bình hay nhỏ. Một số loài có kích thước lớn. Đặc trưng của họ này là mỏ ngắn, mỏ trên rất cong. Gốc mỏ trên phủ da mềm. Thường ở da gốc mỏ có lông tơ nhỏ mọc hướng về phía trước. Lỗ tai rất rộng và thường có viền mép da. Lông ở mặt nhỏ, xếp toả xung quanh thành 1 vòng gọi là đĩa mặt. Một số loài còn có chúm lông dài, dựng lên như hai tai thú là lông mào tai. Chân ngắn, ngón chân có thể gập về phía trước và phía sau.

Giò và chân thường phủ lông. Cánh dài, tròn, lông cánh sơ cấp là 10-11. Đuôi tương đối ngắn, gốm 12 lông. Bộ lông của họ này khá dày, mềm, bở. Màu lông thường xỉn, lẫn lộn giữa các màu xám, nâu, hung và thường có nhiểu vệt và chấm màu thẫm hơn hay trắng. Chim cái nhỏ hơn và có bộ lông giống chim đực. Là những loài ăn đêm và lúc hoàng hôn. Sống ở nhiều sinh cảnh khác nhau. Phần lớn là những loài định cư. Thức ăn là những loài động vật nhỏ như chuột, rắn, thằn lằn. . . Chúng làm tổ ở các hốc cây, kẽ đá, những tổ cũ của nhiều loài chim khác. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa 3-5 trứng. Ở Việt Nam có 16 loài.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cú muỗi Caprimulgidae

 

Là những loài chim hoạt động về đêm. Bộ lông có màu tối thẫm hay lẫn với màu lá khô hay vỏ cây. Phần lớn có kích thước trung bình khoảng trên 100g. Mỏ ngắn nhưng rất rộng, mép mỏ có nhiều lông tơ dài, cứng. đặc điểm này liên quan với cách bắt mồi lúc bay của chim. Mắt lớn, hướng về phía trước. Cánh cú muỗi dài và hẹp, số lông cánh sơ cấp 10, đôi khi 11, số lông đuôi 12, chân ngắn, các ngón rất yếu, lông có màu hung thẫm, nhìn chung bộ lông chim đực và chim cái rất giống nhau.

Là những loài đơn thê, thường không làm tổ, đẻ trứng trong hốc cây hay trên đám lá khô ở mặt đất. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa đẻ 1 đến 4 trứng. Có 92 loài thuộc 23 giống phân bố trên thế giới . Ở Việt Nam có 5 loài thuộc 2 giống.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cú muỗi mỏ quặp Podargidae

 

Là loài chim hoạt động về đêm. Bộ lông có màu tối thẫm hay lẫn với màu lá khô hay vỏ cây. Có kích thước trung bình khoảng trên 100g. Mỏ ngắn nhưng rất rộng, mép mỏ có nhiều lông tơ dài, cứng. đặc điểm này liên quan với cách bắt mồi lúc bay của chim. Mắt lớn, hướng về phía trước. Cánh dài và hẹp, số lông cánh sơ cấp 10, đôi khi 11, số lông đuôi 12, chân ngắn, các ngón rất yếu, lông có màu hung thẫm, nhìn chung bộ lông chim đực và chim cái rất giống nhau.

Là loài đơn thê, thường không làm tổ, đẻ trứng trong hốc cây hay trên đám lá khô ở mặt đất. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa đẻ 1 đến 4 trứng. Có 92 loài thuộc 23 giống phân bố trên thế giới. Ở Việt Nam có 1 loài thuộc giống Batrachostomus.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cun cút Turicidae

 

Gồm các loài có kích thước không lớn lắm. Mỏ ngắn, khoẻ gần giống kiểu mỏ Gà, cánh ngắn, tròn, yếu, có 10 lông cánh sơ cấp. Đuôi ngắn, mềm gồm 12 lông phần lớn các loài chỉ có 3 ngón chân. Chim cái lớn hơn chim đực, màu sắc cũng sặc sỡ hơn. Nơi sống của họ này là những bãi cỏ những chỗ có nhiều cây bụi nhỏ và cả ở đồng ruộng, chúng thường chui luồn giữa các túm cỏ, bụi cây rất nhanh và chỉ bay lên khỏi mặt đất những khi cần thiết.

Về đặc điểm sinh sản của họ Cút có nhiều điểm trái với những loài chim khác. Chim cái giữa phần lớn chức phận của chim đực. Chim cái khoe mẽ, gù chim đực, đánh nhau với chim cái khác để gù chim đực và sau khi đẻ trứng xong chim cái để cho chim đực ấp trứng và chăm sóc chim non. Chim cái thì đi kết đôi với chim đực khác. Tổ của chúng làm bằng cỏ trên mặt đất, đôi khi phía trên có mái che. Mỗi lứa đẻ 17 trứng mỗi năm đẻ khoảng 4 lứa sau 10 –12 ngày chim cái có thể đẻ lứa tiếp theo. Ở nước ta có 3 loài thuộc 1 giống Turnix.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Diệc Ardeidae

 

Gồm các loài có kích thước khác nhau: nhỏ, trung bình, lớn (chân dài, cánh thay đổi từ 135-470mm). Thân dài, mảnh khảnh. Chân và cổ dài (trừ Vạc. . .). Mỏ thẳng, hình chóp thường hơi dẹt bên, khá nhọn, dài. Mép của phần chóp mỏ có răng cưa nhỏ hay có khía nhỏ. Lỗ mũi hơi dài, mở ra phần gốc mỏ và ở trong rãnh mũi. Giò dài, phía trước có phủ vảy ngang. Ngòn chân dài, giữa 3 ngón chân có màng nhưng màng nối ngón ngoài, ngón giữa phát triển hơn.

Tuyến pháo câu trần, kém phát triển. Da trước và xung quanh mắt trần. Cánh dài, rộng, tròn, đuôi ngắn, ngực và hông có những đám lông bột. Lông ở vai và trước ngực dài, nhọn, hình mũi mác. Sau gáy có vài lông mao gọi là lông seo. Chim đực và chim cái khác nhau rất ít. Nơi sống của họ này là các khu vực nước, đầm lấy có nhiều lau sậy, cây bụi. Thực ăn là những loại động vật nhỏ. Phần lớn các loài họat động ban ngày, một số loài hoạt động ban đêm và hoàng hôn. Khoảng 63 loài thuộc 16 giống phân bố trên thế giới. Ở Việt Nam có 19 loài.

 

 

Giới thiệu | Tra cứu | Diễn đàn | Liên hệ | Văn Bản

 
 Mọi chi tiết xin liên hệ Admin website Sinh vật rừng Việt Nam
© Ghi rõ nguồn 'Sinh vật rừng Việt Nam' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này