|
|
TRA CỨU VÀ NHẬN BIẾT HỌ ĐỘNG VẬT (CHIM)

|
Chim ó cá Pandionidae |
Pandion haliaetus |
|
|
| |
Họ Ó cá duy nhất chỉ có 1 loài ở Việt Nam và rộng khắp các vùng trên thế giới. Đặc điểm chính của họ này là ngón chân ngoài có thể gập ngược lại ra phía sau và không có lông bao phụ. Mỏ có kích thước trung bình nhưng chóp mỏ rất dài và rất cong. Giò ngắn, khoẻ, và phủ đầy các vảy hình lưới. Các ngón chân khoẻ và phủ vảy lưới tới gần mút. Các móng chân dài, rất cong và gần bằng nhau. Cánh dài và nhọn, lông cánh thứ 3 dài nhất. Đuôi gần vuông. Nơi sống là những khu vực nước có nhiều cá. Thức ăn chính của loài chim này là cá, nhưng thỉnh thoảng chúng ăn cả chuột, chim hay ếch nhái. Chúng thường bay là là mặt nước khi phát hiện ra con mồi dùng chân để bắt mồi rồi bay lên.
|
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chim sâu Dicaeidae |
Dicaeum cruentatum |
|
|
| |
Đây là họ gồm các loài chim cỡ bé. Trọng lượng cơ thể chỉ vào từ khoảng 4-10g. Mỏ của chúng ngắn, hình tam giác và khoảng 1/3 phần ngoài có hình răng cưa rất mịn ở cả mỏ trên lẫn mỏ dưới. Số lông cánh sơ cấp có thể là 9 hay 10. Nếu có 9 lông cánh sơ cấp thì lông thứ nhất khá lớn và nếu có 10 lông cánh sơ cấp thì lông thứ nhất lại rất bé. Đuôi rất ngắn có 12 lông. Bộ lông của các loài chim sâu có màu sắc rất sặc sỡ. Đây là họ của những loài chim rất hoạt động và là những loài chim rừng thực thụ nhưng chúng cũng có
thể gặp ở vườn làng, thành phố, những chỗ có nhiều cây cối. Thức ăn chính của chúng là những loài côn trùng nhỏ, nhện, nhưng nhiều loài ăn cả phấn hoa, mật hoa và quả mềm. Có khoảng 55 loài thuộc 6 giống phân bố ở vùng nhiệt đới và ôn đới đông bán cầu, trừ châu Phi. Ở Việt Nam có 8 loài thuộc 2 giống
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chim xanh Irenidae |
Aegithina viridissima |
|
|
| |
|
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Choi choi Charadriidae |
Vanelus indicus |
|
|
| |
Họ Choi choi hầu hết là những loài chim có kích thước trung bình hay bé, cổ dài, chân dài (đôi khi rất dài). Cánh thường dài. Lông cánh sơ cấp thứ 3 dài nhất tất cả các loài đều bay khoẻ, nhanh. Nơi sống chủ yếu của chúng là những sinh cảnh trống trải như bờ sông, biển, hồ, bãi triều, bãi lầy nơi có cỏ và thực vật thuỷ sinh, những chỗ nước nông. Một số ít loài sống trong rừng và làm tổ trên cây. Một số loài là những loài chim di trú. Thức ăn chính của chúng là những loài động vật không xương sống, một số ăn cá nhỏ và thân
mềm. Chim đực và chim cái có bộ lông giống nhau, chim đực lớn hơn chim cái. Tổ của chúng làm trên mặt đất rất sơ xài và mỗi lứa đẻ từ 2–6 trứng. Ở Việt Nam có 14 loài thuộc 3 giống.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Cốc Phalacrocoracidae |
Phalacrocorax niger |
|
|
| |
Họ cốc gồm các loài có cỡ khá lớn hoặc trung bình với thân hình trứng và cổ dài. Mỏ có kích thước trung bình, thuôn tròn, nhưng chóp mỏ hơi phình to hơn và có móng cong, sắc. Chân ngắn nằm xa về phía sau thân. Đuôi khá dài, cánh ngắn, rộng và tròn. Bộ lông thường màu đen có ánh thép. Các loài cốc đều bơi lặn giỏi nhưng đi lại trên cạn khá khó khăn. Thức ăn của chúng là Cá.Cốc là những loài phân bố rộng rãi trên thế giới. Ở nước ta gặp 3 loài thuộc giống Phalacrocorax.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Cốc biển Fregatidae |
Fregata minor |
|
|
| |
Gồm các loài chim đại dương có cỡ khá lớn (nặng khỏng 1,5kg). Thân ngắn, đuôi chẻ đôi và rất dài. Cánh dài và nhọn, lông cánh sơ cấp 1 dài nhất. Mỏ dài, mút cả mỏ trên và mỏ dưới đều cong xuống. Chân yếu, màng bơi nối giữa các ngón kém phát triển so với các họ khác cùng bộ. Tùi họng khá phát triển. Cốc biển không lặn được mà bơi cũng kém, vì vậy ít khi gặp chúng bơi trên mặt nước. Khi bắt mồi chúng xà xuống sát mặt nước rồi lại bốc lên ngay. Thức ăn của chúng là Cá. Họ Cốc biển gồm 5 loài thuộc giống Fregata. Ở Việt Nam gặp 2 loài.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Cò quăm Threskiornithidae |
Threskiornis melanocephala
|
|
|
| |
Họ Cò quăm gồm các loài có kích thước trung bình với các đặc điểm chính là mỏ dài. Khoẻ và thường cong đều hình cung hay thẳng, nhưng chóp mỏ dẹp bè ra Cổ dài và lúc hay duỗi thẳng ra phía trước, chân dài, ngón chân khá phát triển và giữa các ngón trước có màn hẹp. Phần trước đầu và ở một số loài toàn đầu và cổ trụi lông. Các loài thuộc loại Cò quăm không có diều. Chim đực và chim cái có bộ lông giống nhau. Họ Cò quăm gồm 30 loài thuộc 17 giống. Phần lớn các loài phân bố ở các vùng nhiệt đới, một số ở vùng ôn đới. Ở Việt Nam có 4 loài 4 giống.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Cổ rắn Anhingidae |
Anhinga rufa |
|
|
| |
Các loài chim thuộc họ Cổ rắn cỡ trung bình. Về cấu tạo chúng rất gần với họ Cốc chỉ khác là mỏ thẳng, mảnh và rất nhọn. Mép mút mỏ có răng cưa. Cổ và đuôi dài hơn cổ và đuôi của Cốc. Cánh nhọn, lông cánh thứ 3 dài nhất. 12 lông đuôi các lông ở vai dài và nhọn hình mũi mác. Các loài chim cổ rắn thường phân bố ở khắp các khu vực nước, đầm lầy trong lục địa. Họ Cổ rắn có 4 loài thuộc 1 giống Anhinga. Ở Việt Nam duy nhất có một loài.
|
|