|
TRA CỨU VÀ NHẬN BIẾT HỌ ĐỘNG VẬT (CHIM)

|
Chân bơi Heliornithidae
|
|
|
| |
Gồm những loài chim có cỡ trung bình. Về đặc điểm bên ngoài, cấu tạo và tập tính chân bơi là trung gian giữa Chim lặn, Bồ nông, Cổ rắn, Vịt và Sâm cầm. Nhưng về mặt phát sinh chủng loại thí chúng gần với Gà nước vì vậy nhiều nhà điểu học xếp chúng vào họ Sếu. Là họ có thân chắc, cổ khá dài, mỏ dài, khoẻ và thường dài hơn giò. Chân ngắn, khoẻ, ngón chân dài, mỗi ngón đều có màng bơi giống như Sâm cầm. Cánh tròn, đuôi dài
|
và có 18 lông. Chim đực và chim cái hơi khác nhau. Họ này phân bố rộng ở Nam Mỹ, châu Phi, Đông nam Á và Sumatra. Ở Việt Nam chỉ gặp 1 loài.
|
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chào mào Pycnonotidae
|
|
 |
| |
Gồm các loài chim trung bình, loài lớn nhất chỉ bằng chim sáo. Bộ lông có màu không sặc sỡ, thường là màu nâu lẫn xám, thỉnh thoảng phớt vàng. Đặc điểm đáng chú ý là đằng sau gáy bao giờ cũng có ít sợi lông, có khi khá dài, nhưng thường thì ngắn và bị khuất trong lớp lông. Chân ngắn, yếu và ngón chân cũng ngắn. Cánh tròn, ngắn. Các lông ở đỉnh đầu thường dài và có thể dựng lên tạo thành mào ngắn hay dài. Bộ lông của chim
đực và chim cái giống nhau, bộ lông của chim non có màu nhạt |
và xỉn hơn.
Loài này sống ở nhiều sinh cảnh khác nhau nhưng phần lớn là các loài chim ở rừng và cây bụi, một số loài sống ở vườn làng và thành phố. Phần lớn sống thành đàn , nhưng đến mùa sinh đẻ thì ghép đôi và sống riêng từng đôi trong một thời gian. Tổ hình chén, làm trên cây. Mỗi lứa đẻ 3-5 trứng. Có khoảng 120 loài trong họ này thuộc 15 giống phân bố ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới của đông bán cầu từ châu Á đến châu Phi. Ở Việt Nam có 20 loài thuộc 4 giống.
|
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chèo bẻo Dicruridae
|
|
 |
| |
Hầu hết các loài thuộc họ này có cỡ trung bình với đuôi dài và thường có hình chẻ đôi. Ở một vài loài lông đuôi ngoài cùng kéo dài ra thành hai dải mảnh như ở loài Chèo bẻo cờ hay phần mút của lông ngoài cùng uốn cong lên như ở loài Chèo bẻo bờm. Mỏ khoẻ và phần nào có hình dạng hơi giống mỏ của các loài thuộc họ Qụa. Mỏ trên hơi cong, mỏ dưới thẳng. Ở gốc mỏ thường có nhiều lông hình sợi, mọc hướng về phía trước và đôi khi che kín cả lỗi mũi. Nhiều loài ở đầu có nhiều lông dài mọc xù lên thành mào lông. |
Chim đực, cái có bộ lông giống nhau. Họ này thường sống ở các vùng có nhiều cây bụi, savan và rừng thưa hay ven rừng có độ cao không quá 3.000m. Tổ hình chén tròn được làm bằng bông cỏ và rễ cây mảnh kết lại bằng mạng nhện. Phía ngoài tổ thường được ngụy trang thêm bằng rêu và địa y. Mỗi lứa đẻ từ 3-5 trứng. Thức ăn chính là các loài côn trùng nhỏ bắt được trong khi bay. Ở Việt Nam có tất cả 7 loài, 14 phân loài thuộc 1 giống Dicrurus. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chìa vôi Motacillidae
|
|
 |
| |
Hầu hết các loài thuộc họ này có cỡ trung bình với đuôi dài và thường có hình chẻ đôi. Ở một vài loài lông đuôi ngoài cùng kéo dài ra thành hai dải mảnh như ở loài Chèo bẻo cờ hay phần mút của lông ngoài cùng uốn cong lên như ở loài Chèo bẻo bờm. Mỏ khoẻ và phần nào có hình dạng hơi giống mỏ của các loài thuộc họ Qụa. Mỏ trên hơi cong, mỏ dưới thẳng. Ở gốc mỏ thường có nhiều lông hình sợi, mọc hướng về phía trước và đôi khi che kín cả lỗi mũi. Nhiều loài ở đầu có nhiều lông dài mọc xù lên thành mào lông. |
Chim đực, cái có bộ lông giống nhau. Họ này thường sống ở các vùng có nhiều cây bụi, savan và rừng thưa hay ven rừng có độ cao không quá 3.000m. Tổ hình chén tròn được làm bằng bông cỏ và rễ cây mảnh kết lại bằng mạng nhện. Phía ngoài tổ thường được ngụy trang thêm bằng rêu và địa y. Mỗi lứa đẻ từ 3-5 trứng. Thức ăn chính là các loài côn trùng nhỏ bắt được trong khi bay. Ở Việt Nam có tất cả 7 loài, 14 phân loài thuộc 1 giống Dicrurus. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chim chích Sylviidae
|
|
 |
| |
Gồm những loài chim có cỡ trung bình và cỡ nhỏ. Loài nhỏ nhất có chiều dài cơ thể khoảng 100mm, nặng khoảng 6g. Loài lớn nhất dài khoảng 260mm và nặng 30g. Mỏ của các loài thuộc họ này khác nhau về hình dạng và cả chiều dài. Ở phần lớn các loài, mỏ thường mảnh, mép mỏ trơn, đôi khi chóp mỏ trên có khía nhỏ. Lỗ mũi nằm ở trước trán và gần với mép mỏ hơn là sống mỏ. Giò và ngón chân thường yếu, mép sau của giò trơn. Cánh có 10 lông cánh sơ cấp, lông thứ nhất rất bé, không dài quá lông bao cánh |
sơ cấp. Đuôi có 12 lông. Hình dạng, chiều dài của đuôi cũng khác nhau tùy loài. Một số loài về mùa đông đuôi dài hơn về mùa hè. Bộ lông mềm, không sặc sỡ. Chim đực và cái có bộ lông giống nhau. Chim đực hơi lớn hơn chim cái. Các loài thuộc họ này thường làm tổ ở bụi cây, cỏ, trên mặt đất. Hầu hết tổ hình chén, nhưng một số loài làm tổ có mái che kín hay dưới các lá rộng cuộn lại. Trứng có màu xanh nhạt hay hung nâu, một số loài có hình vẽ. Thức ăn của chúng là sâu bọ. Ở Việt nam có 52 loài thuộc 14 giống. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chim nhiệt đới Phaethontidae |
|
 |
| |
Gồm những loài chim cỡ trung bình sống ở các đai dương. Màu lông thường sáng (trắng có nhiểu vệt đen và hồâng). Đuôi dài và các lông ngoài ngắn càng vào giữa càng dài dần và nhất là đôi lông giữa dài hơn hẳn các lông khác tạo thành hai dải dài và hẹp. Cánh rất dài và nhọn lông cánh sơ cấp thứ nhất dài nhất. Chân ngắn, yếu nằm xa về phía sau thân, do vậy chim không thể đứng và di chuyển được ở trên cạn. Bơi cũng kém, bay rất giỏi và ít khi gặp ở gần bờ lục địa trong vòng 100 km. |
Vì phân bố trong vùng biển nhiệt đới nên có tên là chim nhiệt đới. Tổ làm trên các đảo xa, vắng, trên các vách đá cheo leo. Thức ăn chính là các loài động vật biển như Cá, Tôm . . . Ở Việt Nam chỉ có 1 loài thuộc giống Phaethon. |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chim lặn Podicipedidae |
|
 |
| |
Là những loài chim cỡ trung bình hoặc bé. Trọng lượng cơ thể thay đổi từ 200 đến 1.4000g. Thân có hình bầu dục, cổ dài, chân ngắn, nằm lùi rất xa về phía sau thân, có 4 ngón chân, mỗi ngón đều có màng bơi riêng. Cánh ngắn, nhọn, đuôi không phát triển. Bộ lông dày, ngắn, các lông bụng xếp xít vào nhau tạo thành bao kín không thấm nước. Mỏ thẳng, nhọn. Chim đực và chim cái có bộ lông giống nhau. Là những loài chuyên sống ở các khu vực nước nên chúng bơi, lặn khoẻ nhưng di chuyển trên mặt đất |
khó khăn. Thức ăn chính của chúng là thực vật thủy sinh và động vật dưới nước. Sống thành đôi, làm tổ nổi trên mặt nước. Mỗi lứa đẻ 3-8 trứng vỏ màu trắng, sau vài ngày ấp chuyển thành màu nâu bẩn. Chim non khoẻ. Có 4 giống và 22 loài phân bố trên thế giới. Ở Việt Nam có 2 giống |
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

|
Chim điên Sulidae |
|
 |
| |
Gồm những loài chim có cỡ khá lớn với thân hơi dài, cánh dài và nhọn, lông cánh sơ cấp 1 dài nhất. Đuôi hình nêm với lông đuôi khá dài. Mỏ dài, khoẻ, hình chóp nhọn, Mép mỏ có răng cưa. Lỗ mũi ngoài ở con trưởng thành hoàn toàn tịt. Bộ lông màu đen, nâu thẫm và trắng. Mặt, kể cả da quanh mắt, cằm và họng (túi họng) trần. Chim điên bay giỏi, di chuyển trên cạn tương đối dễ dàng. Lúc bắt mồi chim phóng từ trên cao xuống mặt biển và có thể lặn theo con mồi trong vài ba giây, vì vậy có tên là Chim điên. |
Thức ăn của chúng là Cá biển nhỏ. Tuy họ chim điên thuộc loài chim biển, nhưng cũng thường gặp chúng ở các vùng gần bờ. Họ này gồm có 9 loài thuộc giống Chim điên Sula phân bố ở các đảo gần các lục địa (trừ Nam cực). Ở Việt Nam có 3 loài. |
|