New Page 1
TRâU RỪNG
Bos bubalis
Linnaeus, 1758
Bos bubalus
Gmelin, 1788
Bos buffelus
Blemenbach, 1821
Họ: Trâu bò Bovidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla
Mô tả:
Hình dạng giống trâu nhà nhưng to và khoẻ hơn. Dài thân 2862mm, dài đuôi 8185mm,
trọng lượng 800 - 1200kg. Trán, má, cổ có lông dài rậm, màu xám đen, phía dưới
lông cổ có đám lông trắng hình chữ V. Sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm,
thân sừng có nhiều vết nhăn nheo, mút sừng nhọn. Lưng màu xám hoặc nâu xám. đuôi
màu xám có túm lông đen ở mút đuôi.
Sinh học:
Thức ăn chủ yếu của trâu rừng là cỏ, lá cây, măng và chồi cây non. Thời gian có
chửa khoảng 10 tháng. 3 - 4 năm một lứa, mỗi lứa 1 con.
Nơi sống và sinh thái:
Trâu rừng thường sống ở những cánh rừng già, rừng thưa ven sông suối hoặc trong
thung lũng sâu có sình lầy ẩm ướt. Sống thành từng đàn vài ba chục con. Hoạt
động, kiếm ăn ban ngày trong rừng thưa, ven rừng, trảng cỏ cây bụi. Buổi trưa
thường nghỉ ngơi đầm mình trong bùn nước. Ban đêm ngủ, cả đàn quây thành vòng
tròn, con non, con già ở giữa. Trâu rừng cũng có thể bị hổ bào tấn công, nhưng
nhờ tập tính sống bảo vệ lẫn nhau nên ít bị nguy hiểm.
Phân bố:
Việt
Nam:
Đắc Lắc (Easúp, Đắc Nông), Thừa Thiên - Huế, Đồng Nai (Nam Cát Tiên, Vĩnh An, Mã
Đà)
Thế giới: Nêpan, Ấn Độ (Assam, Sikkim), Thái Lan, Lào, Campuchia, Srilanca.
Giá trị:
Nguồn gen quý hiến có thể lai tạo với trâu nhà tạo ra giống trâu khỏe mạnh hơn.
Giá trị kinh tế, thịt làm thực phẩm, da xương, sừng cho kỹ nghệ, hàng da và hàng
mỹ nghệ.
Tình trạng:
Trâu rừng ngày càng trở lên hiếm. Sách đỏ thế giới xếp bậc E ở Việt Nam
còn khoảng vài trăm con ngày càng giảm do săn bắn làm mất nơi sinh sống. Mức độ
đe dọa: bậc E
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Tuyệt đối cấm săn, bẫy bắt trâu hoang vắng trong rừng. Khoanh khu vực có trâu
rừng hoang dã. Cấm chặt phá rừng trong khu vực tạo điều kiện cho trâu rừng phát
triển.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt
Nam trang 93.