Trang chủ | Tổng quan | Mẫu gỗ | Vườn quốc gia | English

Từ điển Latin-Việt

TỰ NHIÊN BÍ ẨN

THÔNG TIN MỚI

TRA CỨU THỰC VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2350 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)
Cập nhật 20/11/2023

 

 

Tên Việt Nam: Bổ cốt toái
Tên Latin: Drynaria fortunei
Họ: Dương xỉ Polypodiaceae
Bộ: Dương xỉ Polypodiales 
Lớp (nhóm): Cây thuốc  
       
 Hình: Trần Hợp  
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
   

CỐT TOÁI BỔ

Drynaria fortunei (Kuntze ex Mett.) J. Smith, 1857

Drynaria roosii Nakaike, 1992

Aglaomorpha fortunei (Kunze ex Mett.) Hovenkamp & S.Linds., 2017

Drynaria fortunei (Kunze ex Mett.) J.Sm., 1857

Polypodium fortunei Kunze ex Mett., 1856

Họ: Dương xỉ Polypodiaceae

Bộ: Dương xỉ Polypodiales

Đặc điểm nhận dạng:

Dương xỉ sống nhiều năm, phụ sinh trên đá hay trên thân cây gỗ. Thân rễ hơi dẹt, phân nhánh, mọng nước; phủ đầy lông dạng vảy nhỏ, màu nâu. Có 2 loại lá: Lá hứng mùn màu nâu, bất thụ; không cuống; hình trái xoan, gốc hình tim, cỡ 5 - 8 x 3 - 6 cm; mép khía răng sâu, nhọn, gân nổi rõ. Lá hữu thụ màu xanh; có cuống; phiến xẻ thuỳ sâu hình lông chim; cỡ 25 - 50 x 8 - 15 cm; cứng; gân phụ nổi rõ; mamg nhiều túi tử nang, sắp xếp thành hàng, tương đối đều nhau giữa 2 hàng gân lá. Bào tử hình tròn, màu vàng nhạt.

Sinh học, sinh thái:

Mùa có bào tử tháng 5 - 8. Nhân giống tự nhiên bằng bào tử. Lá non hoặc chồi mọc ra hàng năm vào giữa mùa xuân. Khi thân rễ bị đứt đoạn, phần còn lại vẫn bám ở giá thể, có khả năng tái sinh. Cây ưa ẩm, hơi chịu bóng, sống bám trên đá hay thân cây gỗ lớn trong rừng ẩm thường xanh - nhất là loại hình rừng núi đá vôi.

Phân bố:

Trong nước: Mọc trên cây gỗ, trên đá ở các tỉnh miền núi phía Bắc, từ Nghệ An trở ra: Lai Châu (Phong Thổ), Lào Cai (Sapa), Hà Giang (Quản Bạ, Phong Quang), Cao Bằng (Quảng Hoà, Hà Quảng, Trùng Khánh), Lạng Sơn (Tràng Định, Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn Quan), Hoà Bình (Mai Châu), Hà Tây (Ba Vì), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Thanh Hoá (Cẩm Thuỷ), Nghệ An (Kỳ Sơn).

Nước ngoài: Trung Quốc, Đài Loan, Lào, Thái Lan.

Giá trị:

Thân rễ là vị thuốc được dùng nhiều trong y học cổ truyền, làm thuốc chữa đau lưng, đau nhức xương khớp, bệnh về thận. Dùng tươi để bó gãy xương.

Tình trạng:

Mặc dù có phạm vi phân bố tương đối rộng, nhưng đã bị khai thác liên tục từ vài chục năm trở lại đây. Hiện đã trở nên hiếm rõ rệt, vì thế đã phải sử dụng một số loài khác thay thế như: Drynaria bonii, Drynaria quercifolia. Nạn phá rừng làm nương rẫy hay làm hồ chưa nước (Hoà Bình) cũng góp phần thu hẹp vùng phân bố. Hơn nữa, cây sinh trưởng phát triển chậm.

Phân hạng: EN A1c,d

Biện pháp bảo vệ:

Loài đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "bị đe doạ" (Bậc T). Bảo vệ chặt chẽ các điểm cốt toái bổ ở Vườn quốc gia Tam Đảo, Khu bảo tồn thiên nhiên Trùng Khánh, Pà Cò - Hang Kia, Phong Quang... Cần phải có một cơ chế khai thác chặt chẽ theo luật định.

 

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2007 - phần thực vật - trang 536.

 

 

 

Bản đồ phân bố của loài:

 

Bổ cốt toái

 

 

 
 

 


Giới thiệu | Tra cứu | Danh pháp | Diễn đàn | Liên hệ | Văn Bản | Trợ giúp | SVR Mobile

Mọi chi tiết xin liên hệ Admin website Sinh vật rừng Việt Nam
© Ghi rõ nguồn '
Sinh vật rừng Việt Nam' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này