New Page 1
gà lôi lam mào đen
Lophura
imperialis Delacour et Jabouille, 1924
Họ: Trĩ Phasianidae
Bộ: Gà Galliformes
Mô tả:
Chim đực trưởng thành nhìn chung có màu xanh lam thẫm. Mào lông ở gáy lam đen.
Lông ở lưng, cánh, bao cánh và đuôi đen với mép lông màu lam ánh thép. Đôi lông
đuôi ở giữa nhọn, dài và ngắn dần ở các đôi tiếp theo. Da mặt đỏ tía, tạo thành
thuỷ nhỏ ở hai bên trán. Mắt màu đỏ da cam. Mỏ lục vàng nhạt hay màu sừng. Chân
đỏ tía.
Chim đực non gần độ trưởng thành có bộ lông màu tối, nhiều cỗ vằn. Đầu, mào, cổ
và ngực màu lam đen.
Chim cái trưởng thành không có mào rõ ràng, bộ lông nhìn chung có màu nâu hạt
dẻ. Các phần khác có màu giống chim đực.
Sinh học:
Chim nuôi sinh sản vào tháng 6. Đẻ 5 - 7 trứng, có màu kem hồng thẫm với các
chấm trắng nhỏ và ấp 25 ngày.
Nơi sống và sinh thái:
Lần đầu tiên tìm thấy trên vùng rừng rậm quanh núi đá vôi giữa tỉnh Quảng Bình
và Quảng Trị của miền Trung bộ của Việt Nam. Một chim đực non bắt được vào tháng
2/1990 ở Hà Tĩnh trên độ cao 50 - 200m của rừng thứ sinh. Trong cùng sinh cảnh
còn gặp một số loài chim trĩ khác (xem gà lôi lam mào trắng)
Phân bố:
Việt Nam: khu Phân bố từ Quảng Bình, Quảng Trị. Khu vự mới phát hiện: Hà Tĩnh
(vùng thượng nguồn hồ Kẻ Gỗ thuộc huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên).
Thế giới: Lào (tiếp giáp vùng biên giới Việt Nam - Lào)
Giá trị:
Loài đặc sản hiếm ở nước
ta. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.
Tình trạng:
Vùng phân bố lịch sử nằm trong khu vực chiến tranh ác liệt kéo dài ở Việt Nam,
mặt khác do tình trạng phá rừng và săn bắt quá mức nên đã không tìm thấy trong
khu vực phân bố cũ (Xem gà lôi lam mào trắng) ở vùng rừng Hà Tĩnh tình
trạng xảy ra như đối với gà lôi lam đuôi trắng. Mức độ đe dọa: bậc E
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Giống như ở gà lôi lam mào
trắng và đuôi trắng.
Tài liệu dẫn:
Sách đỏ Việt Nam trang 135.