New Page 1
MANG LỚN
Megamuntiacus vuquangensis
Do Tuoc, et All, 1994
Họ: Hươu nai Cervidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla
Mô tả:
Mang lón có kích thước trung
bình trong họ
Hươu nai Cervidae. Trọng lượng cơ thể khoảng 40 - 50kg. Mặt không có bờm hay
túm lông trùm ở trước trán, lông có màu nâu bóng với những sọc đen chạy dọc
xuống đế gạc phía trong trán từ nhánh gạc nhỏ đến suốt tuyến trớc trán. Tuyến
trán nhô ra, dài khoảng 2cm với bờ mi gấp lên và không có lông.
Dọc tuyến trán có ít lông mịn
màu đen, hàng lông dài quanh tuyến đổ về phía sau. Tuyến lệ có dài lông mịn màu
sẫm. Thân phần lưng sẫm hơn phần bụng. Từ cổ xuống lưng có một sọc màu sẫm. Túm
lông đuôi màu sẫm, phía dưới màu trắng. Con đực có sừng (gạc) khá lớn, dài 28 -
30cm, nhánh chính 14 - 25cm, nhánh phụ 8 - 13cm, phần đế ngắn 3 - 7cm.
Sinh học:
Thức ăn chủ yếu là cỏ, lá cây.
Chưa có tài liệu về sinh sản mang lớn.
Nơi sống và sinh thái:
Sống trong rừng già, rừng thứ
sinh, sa van cỏ và cây bụi . Hoạt động vào ban đêm, sống đơn lẻ, ghép đôi trong
mùa sinh sản..
Phân bố:
Việt Nam: Nghệ An (Con Cuông),
Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Minh Hóa), Thừa thiên Huế (Nam Đông, A Lưới,
Vườn quốc gia Bạch Mã ), Quảng Nam (Giàng), Đắc Lắc (Bản Đôn, Easup), Lâm Đồng
(Lạc Dương, Lâm Hà), Ninh Thuận (Ninh Hải, Ninh Sơn).
Thế giới: chưa rõ.
Giá trị:
Loài thú mới phát hiện ở Việt
Nam, mà chưa phát hiện được ở các nước trên thế giới. Đây là loại thú thuộc loại
quý hiếm và có giá trị về nguồn gen.
Tình trạng:
Loài thú hiếm, số lượng không
nhiều, vùng phân bố hạn chế và chung với vùng phân bố của hoẵng nên vẫn bị săn
bắn bẫy bắt thường xuyên. Mức độ đe doạ: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt và bẫy bắt trong
các khu vực có phát hiện có mang lớn, Đề nghị tiến hành xây dựng thêm khu bảo
tồn ở A Lưới (Thừa thiên Huế) và Eaxô (Eacar - Đắc Lắc) nhằm bảo vệ phục hồi
Mang lớn và Sao la.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt
Nam trang 85.